Khai thác di sản Hát Văn trong phát triển Du lịch ở Bắc Giang

Di sản nói chung và di sản phi vật thể nói riêng là những nguồn tài nguyên du lịch quí giá. Hiện nay loại hình du lịch tìm hiểu những nét văn hóa là bản sắc dân tộc đang được rất nhiều du khách ưa thích, đặc biệt là du khách quốc tế. Điều đó khẳng định vai trò, sức hút và sự hấp dẫn của các di sản đối với sự phát triển của ngành du lịch.

Đặc sắc loại hình âm nhạc Hát văn

          Thực tế cho thấy, các di sản đã được thế giới công nhận luôn được đánh giá cao và được định hướng để khai thác nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn. Ở Việt Nam di sản Vịnh Hạ Long được xác định là không gian du lịch chủ yếu của trung tâm du lịch Hải Phòng- Quảng Ninh; hay các di sản ở Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn là không gian du lịch chính ở khu vực Bắc Trung Bộ gắn với hành lang Đông - Tây. Các di sản văn hóa phi vật thể như: Không gian Cồng Chiêng Tây Nguyên, Ca Trù, Quan Họ, hội Gióng, Lễ giỗ Tổ Hùng Vương…cũng đang là những di sản  văn hóa đặc sắc độc đáo hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, toàn bộ các khu vực di sản đều nằm trong khu du lịch quốc gia. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của di sản trong phát triển du lịch ở nước ta hiện nay.

Bắc Giang là một trong những tỉnh  được đánh giá có khá nhiều di sản, trong đó có di sản thế giới là Dân ca Quan họ, Ca trù, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Ngoài ra còn có hơn 500 di tích Quốc gia và trong tổng số 33 di sản phi vật thể Quốc gia được công bố cuối năm 2012 thì Bắc Giang có tới 6 di sản bao gồm: dân ca Quan họ, Ca trù, dân ca Sán Chí, dân ca Cao Lan, lễ hội Yên Thế, lễ hội Thổ Hà. Trong đợt công bố các di sản phi vật thể quốc gia này, Nghi lễ Chầu Văn của người Việt cũng được công nhận là di sản phi vật thể ở 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định. Song hát Chầu Văn không chỉ bó hẹp ở hai địa phương này, ở Bắc Giang hát Chầu Văn cũng là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo và được diễn ra khá phổ biến ở các đền, phủ và các điện như ở đền Suối Mỡ, đền Nguyệt Hồ… Trước đây, Hát văn là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính chất nghi lễ phục vụ chủ yếu cho tín ngưỡng Tứ phủ ( Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ( Trần Hưng Đạo) – những tín ngưỡng dân gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của người Việt. Hát Văn bao gồm có hát thi, hát thờ, hát văn nơi cửa đền và hát hầu bóng. Hát Chầu Văn sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với lời văn trau chuốt, nghiêm trang thể hiện lòng thành kính của người hát đối với các vị thánh thiêng… Hát văn nhất thiết phải gắn với không gian diễn xướng đó là nơi cửa đền, cửa phủ hoặc các điện thờ. Hát văn phổ biến nhất trong mùa lễ hội, tức là những ngày đầu xuân năm mới. Khi đó, tại các lễ hội mùa xuân hoặc rải rác trong các ngày tuần rằm, mồng một tại các nơi đền, phủ thường diễn ra hai loại hình hát văn đó là hát thờ và hát hầu bóng. Hát thờ chủ yếu phục vụ khách thập phương, những người hát ( gọi là cung văn) ngồi tại nơi cửa đền sẽ tấu lên những bài văn phù hợp mỗi vị thánh trong phủ thờ hoặc hát theo  yêu cầu của khách. Còn hát hầu bóng phục vụ nghi lễ hầu đồng, quá trình nhập hồn của các vị thánh vào thân xác các ông Đồng bà Cốt. Lời của các bài hát văn thường kể lại lai lịch, sự tích các vị thánh đang giáng và thường kể về xuất xứ, tôn vinh công đức, kỳ tích của các thánh. Giai điệu của hát văn mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập khỏe khoắn vui tươi và đặc biệt chất thơ trong lời các bài hát văn được nâng cao trong không gian tâm linh thành kính, xuýt xoa cùng với dàn nhạc phụ họa đưa đẩy và các điệu múa thiêng của các thánh thể hiện qua người hầu đồng... Ngày nay với những tính chất đặc sắc này, Hát Văn không chỉ bó hẹp trong các nghi lễ như trước kia nữa mà Hát Văn đã được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh được trình diễn ở các hội thi, biểu diễn ở các hội nghị, các buổi giao lưu văn hóa – văn nghệ và đặc biệt là trong các chương trình giao lưu “ Ẩm thực – Văn hóa – Văn nghệ” trong các tour phục vụ khách du lịch.  

Hát Văn ở Bắc Giang tồn tại song hành cùng với tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu và Đức Thánh Trần. Với hàng trăm di tích đền, phủ nằm rải rác trong tỉnh cùng với nhiều điện thờ tư gia là những không gian sinh hoạt của nghệ thuật hát Văn, đặc biệt là hát thờ, hát hầu bóng….Hằng năm, phổ biến vào dịp đầu xuân các con nhang, đệ tử trong tỉnh cũng như từ các địa phương lân cận đổ về các đền thờ ở Bắc Giang để tổ chức hát hầu, hát thờ. Trong những điểm thường diễn ra lễ hầu bóng phải kể đến đền Suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương huyện Lục Nam và đền bà chúa Nguyệt Hồ thuộc xã Hương Vĩ huyện Yên Thế. Trong nghi thức thờ Mẫu ở đền bà chúa Nguyệt Hồ và hệ thống đền thờ ở Suối Mỡ ( Công chúa Quế Mỵ Nương hay còn gọi là Bà chúa Thượng Ngàn) thì hình thức hầu bóng được coi là một nét văn hóa đặc trưng không thể thiếu, nhất là trong những ngày đầu xuân và dịp lễ hội. Vào dịp đầu năm có rất đông du khách thập phương từ các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Nội... về đền Suối Mỡ và đền bà chúa Nguyệt Hồ để lễ Mẫu và dâng văn hầu. Theo sự tích truyền lại đền Đền Nguyệt Hồ là một trong những di tích cổ gắn liền với hàng ngàn năm lịch sử và văn hiến của quê hương Bắc Giang. Ngôi đền nằm ở vùng đất có nhiều di tích thuộc thượng lưu dòng sông Thương. Dọc ven dòng sông này có rất nhiều các điểm di tích thờ Mẫu nhưng được quan tâm và nổi tiếng hơn là đền Nguyệt Hồ, thuộc xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế. Những năm gần đây đền Nguyệt Hồ là điểm nhấn tâm linh, tín ngưỡng của đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Hàng năm, có tới hàng ngàn lượt khách từ khắp các tỉnh, thành trong nước hành hương tìm về đền Bà Chúa Nguyệt Hồ để xin lộc, cầu tài, cầu bình an trong cuộc sống. Còn tại Suối Mỡ- hệ thống đền Hạ, đền Trung và đền Thượng đều thờ công chúa Quế Mị Nương, con gái thứ 10 của vua Hùng Định vương. Tương truyền nàng là người có công khởi thác Vực Mỡ đưa nước về cho nhân dân trong vùng khai hoang, trồng trọt, xây dựng xóm làng, nàng có công dạy dân làm lúa nước, ươm tơ dệt vải…mang lại ấm no cho dân bản…Khi hóa nàng được tôn làm vị Thần, là Thánh Mẫu toàn năng bảo vệ dân làng, trông coi núi rừng và có nhiều mối quan hệ với các dân tộc thiểu số anh em... Ở Bắc Giang đền Nguyệt Hồ và đền Suối Mỡ đều có Hát Văn hầu thánh, Hát Văn thể hiện nét văn hóa đặc trưng riêng tại hai địa điểm này. Riêng đền Suối Mỡ hằng năm vào dịp lễ hội còn tổ chức hội thi Hát Văn. Đây là một nét sinh hoạt văn hóa rất đặc trưng của lễ hội Suối Mỡ khẳng định giá trị, sức lan tỏa của loại hình di sản Hát Văn góp phần không nhỏ trong việc thu hút khách du lịch đến với điểm du lịch này.

Có thể khẳng định tại Suối Mỡ với những phong cảnh hữu tình những thác nước quanh năm tung bọt trắng xóa, hòa chung trong với thiên nhiên núi rừng hoang sơ với hệ thống đền thờ Mẫu là những làn điệu Hát Văn đi vào lòng người đã khiến nơi đây trở thành một địa điểm du lịch văn hóa tâm linh và sinh thái hấp dẫn. Trong quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và quy hoạch bảo tồn tổng thể hệ thống di tích và danh thắng Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang đều khẳng định Suối Mỡ là một điểm du lịch nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh. Đồng thời đây là một điểm du lịch trọng tâm được đưa vào quy hoạch, đã và đang được xây dựng và khai thác trong giai đoạn hiện nay cũng như hướng phát triển lâu dài của tỉnh Bắc Giang nói chung và của huyện Lục Nam nói riêng. Theo đó Suối Mỡ sẽ được đầu tư theo hướng bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa, lịch sử, bảo vệ tài nguyên môi trường để khai thác phát triển du lịch sinh thái gắn với du lịch văn hóa tâm linh. Như vậy, ngoài việc tôn tạo các giá trị vật thể của di tích, danh thắng Suối Mỡ, vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể tại điểm du lịch này cũng cần được quan tâm. Di sản phi vật thể ở đây có thể nói đến đó là văn hóa thờ Mẫu thượng ngàn, gắn với lễ hội Suối Mỡ được tổ chức hằng năm và đặc biệt là nghệ thuật hát văn hầu bóng tại hệ thống đền  thờ và hát văn  thi trong ngày hội Suối Mỡ.

Việc bảo tồn, khai thác nét văn hóa độc đáo ở Suối Mỡ phục vụ cho phát triển du lịch, đồng thời tránh sự lợi dụng thái quá hình thức hát văn phục vụ cho mục đích mê tín dị đoan theo tôi, chúng ta nên thực hiện một số giải pháp sau:

- Trước nguy cơ mai một của nghệ thuật hát văn truyền thống như lớp nghệ nhân hát văn giờ chỉ còn thưa thớt, lớp trẻ học hát văn chủ yếu để phục vụ nhu cầu hành nghề cấp tốc theo kiểu ăn sổi. Mặt khác đời sống âm nhạc cổ truyền bị phá vỡ, đối tượng thưởng thức loại hình nghệ thuật này bị thu hẹp dần do đó cần có chính sách cho các nghệ nhân hát văn. Có các hoạt động đào tạo, truyền nghề cho lớp người trẻ kế cận để hát văn không bị mai một. Khuyến khích việc đưa các tiết mục hát văn vào các cuộc hội diễn nghệ thuật, các chương trình giao lưu văn hóa – văn nghệ phục vụ du khách…;

- Tiếp tục duy trì và mở rộng và nâng cao chất lượng Hội thi Hát Văn vào ngày hội Suối Mỡ và lấy đó là một trong những điểm nhấn nhằm thu hút du khách về với Bắc Giang. Để thực hiện điều này, cần tăng cường công tác tuyên truyền về hội thi đồng thời có hình thức động viên, khuyến khích để thu hút các cung văn ở các địa phương trong tỉnh tham gia Hội thi;

- Ban quản lý di tích Suối Mỡ cần được kiện toàn và bổ sung chức năng, nhiệm vụ phối hợp tốt với nhà Đền quản lý tốt các sinh hoạt tín ngưỡng trong đó có việc quản lý cả sinh hoạt hát văn tại Suối Mỡ đồng thời có thể có biện pháp quản lý các sử dụng các cung văn hợp lý vừa phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng vừa phục vụ được du khách thập phương;

- Xây dựng Hát Văn trở thành một trong những điểm nhấn quan trọng hình thành sản phẩm du lịch tại Suối Mỡ. (Ví như duy trì hình thức hát thờ, tổ chức cho các cung văn hát phục vụ khách thập phương khi hành hương đến Suối Mỡ. Xây dựng tour du lịch Suối Mỡ có chương trình Hát Văn, hoặc khi khách du lịch có nhu cầu sẽ có đội cung văn phục vụ).

Nếu được bảo tồn, quản lý và khai thác tốt Hát Văn trong phát triển du lịch,  ngành du lịch Bắc Giang hứa hẹn sẽ thu hút được đông đảo du khách về với địa phương./.

Th.S Lưu Xuân San

Liên hệ quảng cáo

470 x 88

Liên hệ quảng cáo

350 x 250

Sự kiện văn hóa

Dự án du lịch

Liên kết

Thông tin du lịch Bắc Giang