29 Tháng 1, 2026 | Tin trong nước
BẮC NINH - Trong 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 14 kỳ đại hội và mỗi kỳ đại hội là một mốc son, gắn với sự trưởng thành, phát triển, lớn mạnh của Đảng ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - đại hội mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, diễn ra từ ngày 19 - 23/1/2026 đã thành công rất tốt đẹp và để lại nhiều dấu ấn. Nhìn lại quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết quả Đại hội, có thể nêu lên 14 dấu ấn nổi bật về Đại hội.
1. Công tác chuẩn bị Đại hội XIV được bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 8 với việc thành lập 5 tiểu ban: Văn kiện, Nhân sự, Kinh tế - Xã hội, Điều lệ Đảng, Tổ chức và Phục vụ Đại hội. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị do nhiều nguyên nhân khác nhau, 4/5 trưởng tiểu ban có sự thay đổi nhưng công tác chuẩn bị nội dung cho Đại hội đã được chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, bài bản, chu đáo và có nhiều đổi mới cả về nội dung và hình thức.
![]() |
|
Đại hội XIV của Đảng - đại hội mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. |
2. Khi đã cơ bản hoàn thiện các dự thảo Văn kiện, đến Hội nghị Trung ương 12, Ban Chấp hành Trung ương quyết định tích hợp Báo cáo Chính trị với Báo cáo Kinh tế - Xã hội và Báo cáo công tác xây dựng Đảng thành một báo cáo chung. Việc đổi mới này đã giảm 1 báo cáo trình Đại hội và nội dung các báo cáo có sự liên thông, gắn kết với nhau thành một chỉnh thể thống nhất, rõ trọng tâm, trọng điểm và ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ triển khai thực hiện, được dư luận đánh giá rất cao.
3. Tổng số đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng là 1.586 đồng chí, gồm các đại biểu đương nhiên (các Ủy viên Trung ương khóa XIII), đại biểu do các đảng bộ trực thuộc Trung ương bầu và đại biểu do Bộ Chính trị chỉ định. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, số đại biểu đương nhiên chỉ có 163/200 và đại biểu được bầu chỉ có 353, giảm nhiều so với các kỳ đại hội trước. Trong 40 đoàn đại biểu dự Đại hội, 1.070 đại biểu của 27 đoàn ở các đảng bộ mới thành lập (23 tỉnh, thành phố và 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương) và ở đảng bộ ngoài nước do Bộ Chính trị chỉ định; 353 đại biểu của 13 đoàn ở các đảng bộ không hợp nhất, sáp nhập do Đại hội bầu.
4. Trên cơ sở kế thừa tinh hoa các đại hội trước và căn cứ tình hình thực tiễn, chủ đề và phương châm chỉ đạo Đại hội được kế thừa, bổ sung và phát triển phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Chủ đề Đại hội được xác định là: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Phương châm của Đại hội là: “Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá, phát triển”. Việc xác định chủ đề và phương châm Đại hội như vậy vừa thể hiện sự thống nhất về tư tưởng và hành động, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn của Đảng ta vừa là lời hiệu triệu, khơi dậy khát vọng xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
5. Trước ngày khai mạc và trong những ngày diễn ra Đại hội, Đảng ta nhận được 898 điện, thư chúc mừng của các chính đảng, tổ chức quốc tế, các chính trị gia, đối tác, bạn bè quốc tế và người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài. Điều đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt và tình cảm sâu sắc của bạn bè quốc tế đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Trung tâm Hội nghị quốc gia - nơi diễn ra Đại hội được trang trí đẹp, trang nghiêm nhưng thiết thực và hiệu quả, được dư luận đánh giá cao.
6. Lần đầu tiên, Đại hội thảo luận và thông qua Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và coi đó là một bộ phận cấu thành của Báo cáo Chính trị. Chương trình hành động chỉ rõ những nhiệm vụ lớn, quan trọng cần tập trung thực hiện; phân công rõ trách nhiệm cho các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương; xác định rõ thời gian, giải pháp, nguồn lực để thực hiện. Việc thảo luận và thông qua Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết tại Đại hội là căn cứ pháp lý quan trọng để các cấp ủy, tổ chức đảng và các ngành chủ động triển khai và tổ chức thực hiện, sớm đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống.
![]() |
|
Các đại biểu bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. |
7. Công tác nhân sự Đại hội tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển theo những yêu cầu mới, bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng nguyên tắc của Đảng. Đại hội quyết định: Số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV là 200 đồng chí, gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết; Bộ Chính trị từ 17-19 đồng chí và Ban Bí thư từ 11-13 đồng chí. Nói chung, công tác chuẩn bị nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng, dân chủ, khách quan, khoa học và qua nhiều vòng theo trình tự: Chuẩn bị nhân sự Trung ương trước; nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư sau; cuối cùng là các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Ở mỗi cấp, chuẩn bị nhân sự tái cử trước, nhân sự tham gia lần đầu sau; cuối cùng xem xét những trường hợp đặc biệt.
8. Đánh giá về 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Đại hội nhấn mạnh 4 kết quả nổi bật sau: (1) Phát triển kinh tế, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả nổi bật: Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,3%/năm. Quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỉ USD, xếp thứ 32 thế giới, GDP bình quân đầu người 5.000 USD/năm. (2) Phát triển văn hóa, con người và xã hội đạt kết quả rất quan trọng: Chỉ số phát triển con người tăng 14 bậc; chỉ số hạnh phúc tăng 33 bậc, xếp thứ 46/143 quốc gia. Tỷ lệ hộ nghèo còn 1,3%. Tuổi thọ bình quân là 74,8 tuổi. (3) Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả nổi bật. (4) Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, có mặt đột phá: Lần đầu tiên bố trí 100% Bí thư, Chủ tịch UBND, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra cấp tỉnh không là người địa phương. Cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đạt kết quả mang tính đột phá.
9. Báo cáo Chính trị Đại hội được bổ sung nhiều nội dung mới, thể hiện sự phát triển nhận thức, tầm nhìn và tư duy lý luận của Đảng ta. Nhiều nội dung mới trên các lĩnh vực đã được bổ sung, phát triển như: Bổ sung: Lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng; Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trung tâm; Đối ngoại, hội nhập quốc tế cùng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển, trong đó: Thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Xác định: Văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh, là động lực phát triển xã hội bền vững; Xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh;…
10. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới, Đại hội xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ mới là: (1) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. (2) Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. (3) Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. (4) Triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. (5) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. (6) Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác đối ngoại, gồm đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước.
11. Để thực hiện các nhiệm vụ đề ra, Đại hội nhấn mạnh 3 đột phá chiến lược cần tập trung thực hiện là: (1) Đột phá mạnh mẽ thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở phù hợp với mô hình tổ chức mới. (3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng.
12. Qua tổng kết lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới, Đại hội khẳng định sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta trên các mặt sau: (1) Nhận thức về mô hình, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. (2) Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (3) Nhận thức về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhân tố hàng đầu quyết định thành công của đổi mới.
13. Qua 40 năm đổi mới, Đại hội đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quý báu, định hướng cho hoạt động của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới là: (1) Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và các nguyên tắc của Đảng. (2) Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. (3) Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc"; phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân. (4) Bám sát thực tiễn, nắm chắc tình hình và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm. (5) Không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược; giải quyết tốt quan hệ giữa kế thừa và phát triển; giữa kiên định và đổi mới; giữa tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, phát triển lý luận.
14. Với tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ cương và trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, Đại hội đã bầu 200 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết, theo đúng Quy chế bầu cử trong Đảng, Quy chế bầu cử tại Đại hội và Phương hướng công tác nhân sự của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Tại kỳ họp thứ Nhất, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu 19 Ủy viên Bộ Chính trị; đồng chí Tô Lâm Tổng Bí thư khóa XIII được bầu là Tổng Bí thư khóa XIV, với số phiếu tín nhiệm tuyệt đối. Trung ương bầu 3 Ủy viên Ban Bí thư và 10 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công tham gia Ban Bí thư; bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 23 đồng chí, đồng chí Trần Sỹ Thanh được bầu là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Bộ Chính trị đã phân công đồng chí Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư khóa XIII tiếp tục giữ chức Thường trực Ban Bí thư khóa XIV.
THEO BÁO BN
Danh mục
Bài viết nổi bật
Loading...